Lịch sử Bố Cục – phần 1

Nhân dịp viết tiểu luận chuyên đề Bố Cục, mình tìm được tài liệu rất hay này và cùng đăng lên đây để chia sẻ. Lưu ý đây chỉ là bản tóm lược tối thiểu, nếu bạn muốn đọc nhiều hơn xin vui lòng tham khảo bản gốc tiếng Anh ở cuối bài.

Các nghệ sĩ luôn bị ảnh hưởng từ môi trường sống, vì vậy các tác phẩm nghệ thuật thường phản ánh thời gian và địa điểm mà nó được sinh ra. Tất nhiên là từ thời nguyên thủy, cách mà con người thể hiện bố cục không giống như bây giờ. Dù vậy khi ngắm những bức tranh hang động thời tiền sử, người ta có cảm giác dường như các nghệ sĩ cổ xưa đã biết cách lợi dụng bề mặt đá lồi lõm để làm sinh động thêm các bức tranh về bò rừng hay các cảnh săn bắt thời ấy.

Bức họa tên vách đá ở sông Ardèche, miền nam nước Pháp

Sự sắp xếp có từ khi nào?

Một trong những nền văn minh vĩ đại đầu tiên mà đã biết cách hệ thống hóa các yếu tố thị giác là Ai Cập. Những bức tranh tường phục vụ cho các Pharoahs được tạo nên bởi các dấu hiệu, các quy tắc thị giác theo những quy định chặt chẽ. Như vậy nghệ thuật đã xuất hiện trước cả thời điểm mà chúng ta cho rằng sự khởi đầu của nền văn minh phương Tây, gọi là thời “nguyên thủy”, điều này có nghĩa là các nghệ sĩ không được đào tạo nghệ thuật một cách chính thức cho đến tận năm hai trăm trước Công nguyên sau này.

Tỷ lệ vàng xuất hiện

Văn minh Hy Lạp có lẽ là thời điểm đầu tiên của tỉ lệ vàng (Golden ratio) và sự cân xứng (Proportion). Cho dù nghệ thuật thời Hy lạp cổ đại chỉ phục vụ phần lớn cho tôn giáo, chính trị hơn là mục đích thẩm mỹ, người Hy Lạp thời đó đã biết quan niệm một hình chữ nhật chuẩn là hình có chiều ngang cân xứng với chiều dài qua con số 0,618:1. Theo cách tương tự như vậy, họ cũng quan niệm về một khuôn mặt hoàn hảo có tỉ lệ xác định giữa các thành phần từ tóc đến mắt, từ mắt đến cằm,..

Đền Parthenon là một ví dụ điển hình về tỉ lệ vàng mà người Hy Lạp xưa áp dụng vào kiến trúc

0,618:1 hay 1,618122… là tiền đề cho một dãy số toán học Fibonacci nổi tiếng được sử dụng nhiều trong các tuyệt tác nghệ thuật, đặc biệt là hội họa và thiết kế. Trong dãy số này, nếu số đứng sau bằng 1,618.. số đứng ngay trước nó, ta sẽ có được 1 quy tắc thú vị đó là số đứng sau luôn bằng 2 số đứng trước nó cộng lại.

Cụ thể đó là dẫy số 0, 1, 1, 2, 3, 5, 8, 13, 21, 34,.. mà trong đó chúng ta có

0 + 1 = 1

1 + 1 = 2

2 + 1 = 3

3 + 2 = 5

5 + 3 = 8

……..

21 + 13 = 34 …….. cứ tiếp tục như thế

và  34/21 = 21/13 = 13/8 =…  = 1,618

Nếu biểu diễn về mặt hình học, ta sẽ có một bộ hình chữ nhật và hình vuông lồng trong nhau tạo nên một đường xoắn hoàn hảo dưới đây

Đối với toán học là như thế, còn với hội họa, cụ thể là trên một mặt tranh thì tỉ lệ này cung cấp một bản đồ những vị trí ưu tiên về mặt thị giác

  1. Các đường nằm trên các cạnh hình chữ nhật khác nhau tạo nên sự cân xứng về mặt thị giác. Ví dụ như ảnh đền Parthenon minh họa ở trên.
  2. Tâm điểm của vòng xoáy là vị trí thu hút ánh mắt người xem mạnh mẽ nhất (nếu các yếu tố thị giác trên mặt tranh là như nhau). Bạn đọc có thể xem tác phẩm “Thiếu nữ bên hoa huệ” của họa sĩ Tô Ngọc Vân là một ví dụ.
  3. Những đường di chuyển dọc theo đồ thị này sẽ tạo nên những đường lượn gom tụ một cách hoàn hảo. Như bức tranh về con sóng đầy quyền lực của họa sĩ Nhật bản trứ danh Hokusai dưới đây.
Tác phẩm “The Great Wave” của họa sĩ Katsushika Hokusai thể hiện chuyển động theo đường lượn này

Đối xứng và nhịp điệu

Trong nghệ thuật Celtic thời Trung cổ có sự kết hợp các yếu tố hữu cơ và yếu tố trừu tượng, xuất hiện các hình ảnh động vật cách điệu đối xứng.

Celtic Wood Carving Running Dogs

Sau sự sụp đổ của đế chế La Mã, các tu viện ở Ireland đã tạo ra các bản thảo truyền bá lời chúa (như quyển Kells), trong đó có nhiều họa tiết trang trí tinh xảo theo những quy tắc nghiêm ngặt về thiết kế, đối xứng, kết nối giữa các đường và hình ảnh, màu sắc được lặp đi lặp lại và chuyển động theo đường cong.

Luật viễn cận (luận xa gần, luật phối cảnh)

Các tác phẩm bố cục thực sự xuất hiện từ nghệ thuật Ý vào cuối TK13 trong bức tranh của Giotto và các họa sĩ khác. Trong đó có những gợi ý về hình ảnh 3 chiều trong không gian các khung kiến trúc của kỹ thuật vẽ phối cảnh sơ khai.

Cristo davanti a Caifa è un affresco

Có không gian hình tượng trong tính thống nhất, có sự sắp xếp lại các thành phần hơn là chấp nhận một thứ tự ngẫu nhiên. Có sự xuất hiện các hình khối đơn giản, vững chắt, và nhóm các hình mảng, thể hiện không gian bóng đổ, được sắp xếp bằng những gắn kết nội tại. Các đường phối cảnh hướng ánh mắt người xem về điểm nhấn ở khoảng cách xa và lúc này bề mặt bức tranh giống như một khung cửa sổ mà thông qua đó người xem cảm nhận một không gian thực sự bên ngoài. Khoảng năm 1400, các tranh vẽ có chiều sâu không gian xuất hiện càng lúc càng nhiều trong hội họa.

Màu sắc theo quy luật thị giác

Thời kỳ phục Hưng (Renaissance), kỹ thuật phối cảnh tuyến tính (Linear perspective) chính thức được phát minh, với các đường thẳng trong không gian luôn hướng về 2 điểm tụ (vanishing point) ở đường chân trời ngang tầm mắt.

Thời kỳ này cũng xuất hiện chất liệu sơn dầu làm màu sắc trong hội họa tinh tế hơn. Các họa sĩ bắt đầu nghiên cứu về sự hài hòa của màu sắc. Khái niệm không gian phối cảnh (Atmospheric perspective) xuất hiện tạo nên chiều sâu tranh nhờ vào màu sắc nhạt nhòa ở xa có độ tương phản và độ tươi màu càng giảm.

Tác phẩm “The Embarkation of the Queen of Sheba” của họa sĩ Claude Lorrain thể hiện được cảnh vật xa xăm bằng màu sắc

Khoa học đã tham gia vào nghệ thuật qua cấu trúc giải phẫu cơ thể người trong phần dựng hình và lên khối trong điêu khắc và hình họa. Nét đẹp cơ thể được chú ý với cấu trúc cơ thể chính xác.

Tác phẩm “The Creation of Adam” của họa sĩ Michelangelo Buonarroti, thể hiện cơ bắp, tỷ lệ hình thể con người chính xác.

Chủ đề tranh nhấn mạnh nét đẹp về hình thể con người, về những hiện thực trong cuộc sống hơn là chủ đề về tôn giáo, thiên chúa. Quan niệm cuộc sống là thế giới vật chất phản ánh thế giới của chúa trời.

Người nghệ sĩ cũng bắt đầu vận dụng các khối hình học để sáng tác và ổn định bố cục, ví dụ như hình tam giác.

Tác phẩm “Madonna del Prato” của họa sĩ Raffaello
Tác phẩm Piéta (1498–1500) của họa sĩ, điêu khắc gia Michelangelo
Tác phẩm “Christ in the House of Martha and Mary”, họa sĩ Vermeer

LICH SỬ BỐ CỤC

phần 1phần 2phần 3 – phần 4


Nguồn: http://www.ndoylefineart.com/design2.html

Artists have always been influenced by their environment, so art often reflects its time and place. Design, which is another word for composition, has changed with times and places since the first small sculptures and cave paintings. Of course, in the beginning those who made the first fertility goddesses and paintings of animals were probably not thinking of design in the way that we do now. It seems from looking at the cave paintings that the painters took advantage of the natural concavities and convexities of the cave walls, to draw their bison and other animal forms. Design also often follows function – so, the cave paintings probably were done a certain way to suit the makers’ purposes, whether spiritual or hunting, or both.

One of the first major civilizations to codify design elements was the Egyptian. These wall paintings were done in the service of the Pharoahs, and followed a rigid code of signs, visual rules and meanings to that end. Art made prior to what we consider the beginning of western civilization has usually been called “primitive,” meaning that the artists were not artistically trained in a formal sense until perhaps two centuries prior to the birth of Christ. Even now, artists who have not received specialized artistic training are referred to as primitive, or self-taught, like Grandma Moses. Up until the Greek civilization began, “art” served other purposes than aesthetic, i.e., religious or hunting. Art has served other masters up until our time, also, in the service of the churches from the Middle Ages through the Renaissance; and of various political powers even well into the 20th century. This ‘primitive’ (an unfortunate term) art possesses certain common characteristics, such as the absence of linear perspective, which results in a flat space, whether in the work of Grandma Moses or in Persian miniatures of the 16th century. Linear perspective was developed before and during the Renaissance, so before the Renaissance, and after in many individuals and societies, there was no attempt to create the illusion of depth in paintings. These artists tend to create images based on what they know, like children usually do, and not as much on what they see. Objects generally do not decrease in size as they are farther away; there is little overlapping of forms to indicate position in space; to indicate further locations in space, forms are often placed vertically on top of one another. There is no foreshortening of figures, for instance, in Egyptian friezes; all of the figures are seen in profile – even the feet of a figure facing front are seen from the side, contrary to anatomy. There is little shading to indicate three dimensions; the composition is based on a flat pattern, or other two-dimensional design. Images were not drawn from life – but rather from memory or preconceived methods of constructing an image. The purpose is to tell a “story,” or promote a political or religious point of view, often, rather than involve purely aesthetic considerations, or, to decorate a functional object, as in crafts.

Oriental art also has a tradition of a flat surface, without the use of linear perspective, such as Chinese and Japanese painting, which is based more on non-naturalistic premises, such as contemplation and internal realities, rather than external appearances. Partly from the influence of Japanese art in the 19th century, western art since about 1890 has returned to the primacy of the flat surface in painting, though often in variations of flatness, getting away from linear perspective and the illusion of depth. The monolithic monuments of ancient times, from Stonehenge to Easter Island heads, were probably built for other concerns than artistic – again, perhaps spiritual, or for calendar or seasonal purposes. They have a power, mystery and a timeless quality which influence many artists of our time, who perhaps long for an expression of eternity, rather than getting caught up in the overwhelming temporal reality. Robert Smithson created artworks from arrangements of large natural elements, like rocks and bodies of water, into spiral and other primal forms, in the 1960’s and ’70’s. This type of art is called earth art; the works themselves are called earth works.

The Greeks were the next major civilization after the Egyptians, who became concerned with anatomical accuracy in their sculpture, as well as the presentation of the ideal. At this time, wall paintings became more concerned with painterly values, and less with ideological constraints, and began to represent three dimensions in figures, though often in a decorative manner. (Decorative is a term which connotes a flat space, and generally is used as a criticism in fine art, when the image is too similar to, say, wallpaper – too concerned with prettiness, too regular, too shallow physically and emotionally, etc., and better suited for interior decorating or craft, where the primary concern is normally harmony, rather than the more substantive demands of fine art.) The Greek aesthetic dealt with order, reason, harmony, and the ideal, and these virtues developed into the forms of their sculpture, which is sheer perfection, based on the forms of nature. Roman art was based on much of Greek art, and continued a similar tradition, with Roman painting more concerned with representations of figures from life – more three-dimensional, more individual, and with more emphasis on modeling in the figures (shading of lights and darks), and the beginning of landscape and still life painting, with more depiction of volume and space.

An idea perhaps originating with the Greeks was the Golden Section. This was an aesthetic and mathematical idea concerning divine proportion, the golden rectangle, and golden proportion. A rectangle was said to be most pleasing to the eye when it possessed a certain ratio of width to height; the mathematical ratio of 0.618:1. Examples of Greek architecture are thought to have contained this ‘divine’ ratio, as well as their conception of anatomical relationships, for instance, from the top of hair to eyes, and from the eyes to the chin of the ‘perfect’ face. The idea of the golden section continued into the Renaissance, where Italian thinkers expanded the idea. I am hardly a mathematician, but basically, you have a line, A to B; and line AB is divided at point C, so that the ratio of the two parts of AB, the smaller to the larger, is the same as the ratio of the larger part (CB) to the whole, AB. And this relationship is mathematically expressed as 0.618:1. This system was also used by some artists as a way to compose their paintings, in a more aesthetically pleasing way. Artists since who made use of this ‘divine’ proportion include da Vinci, Durer, Seurat, and Mondrian, as a way of dividing the canvas into compositional segments most pleasing to the eye.

In the Middle Ages, celtic art contained a combination of abstract and organic elements – with the ‘animal’ style and interlacing bands, at first symmetrical, and often in metalwork. It then spread to wood, stone and manuscript illumination. After the fall of Rome, Ireland’s monasteries produced manuscripts to spread the word of God, which contained this elaborate embellishment, for example in the Book of Kells. There were strict rules of design – symmetry, connections of lines and images, color repetitions (they eschewed representational images, in preference to ornamental ones), and curvilinear movement. Book covers in Romanesque design were decorative and organic, also in the service of religion or politics.
The first real design in art came in Italy at the end of the 13th century, in the painting of Giotto and others. There are hints of three dimensions in the figures, and in space, and in the architectural framework, and the beginnings of perspective. There was a new kind of pictorial space – and new pictorial unity, organized rather than casual. There were strong, simple forms, grouping of figures, shallow space, arranged with an inner coherence. Each composition was attuned to the emotional content of the work (the structure conveys meaning, as well as the subject matter). Perspective lines direct our eyes toward a focal point in the distance, and the surface of the painting becomes a window through which we perceive “real” space. There is also more realism, scenes of daily life, and a more secular approach. In around 1400, deep atmospheric space appeared in painting, although not in a formal sense.

In the Renaissance, the emphasis was humanistic, rather than divine – man, not God. The Flemish in the North had an interest in realism (imitation of nature), and the symbolism of everyday objects (the physical world is a mirror of divine truths). This was also the beginning of the use of oil paint, so there was a more subtle color range than in previous mediums. Atmospheric perspective appeared – this means that there is less contrast and saturation of the colors in the space furthest away from the painting surface (depth), which also gives the work a certain unity. The artist in Italy was no longer perceived as merely a craftsman. Linear perspective was invented at this time, also – lines receding in space toward a vanishing point on the horizon line, at the viewer’s eye level. Science came to the aid of artists, as more importance was placed on objective accuracy of images. There was an interest in the nude figure, and its anatomical accuracy; using chiaroscuro (light and dark shading) to indicate volume in forms, and as a unifying element in the composition (eliminating the barriers of contour lines between forms). Color harmonies began to be studied, and artists began doing preliminary studies for composing artworks. They also began to use geometric forms to compose and stabilize compositions, such as the triangle.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

nineteen + 13 =