Lịch sử bố cục – phần 2

Khoa học là chính xác, là rạch ròi.. điều đó tạo nên những hình thể chuẩn mực trong các tuyệt tác hội họa và điêu khắc thời kỳ Phục Hưng, làm nên một giai đoạn chói sáng trong lịch sử mỹ thuật thế giới. Thế nhưng nghệ thuật không đơn giản như vậy. Tính “Chính xác” hay “đúng sai” không thuộc về bản chất của cảm xúc, hay của bất kỳ một lĩnh vực thiên về sáng tác nào.

Hài hòa màu sắc

Họa sĩ Titan bắt đầu chừa lại các đường cọ trên mặt tranh, làm bức vẽ trông như vẫn còn đang dỡ dang, các vệt cọ lúc này có điều kiện tham gia vào tác phẩm như một thành phần bố cục. Cũng nên nói thêm là các tác phẩm cổ điển trước đó mặt tranh luôn được mài nhẵn, nét cọ trau chuốt, tán mịn, dấu kỹ trên mặt tranh.

Vào khoảng năm 1520, các họa sĩ Mannerist (Trường phái Kiểu Cách) xuất hiện với phong cách nghệ thuật nhiều cảm xúc hơn, như một phản ứng chống lại tính quá mẫu mực, khuôn thước của hội họa phục hưng lúc bấy giờ. Phối cảnh và hình khối được phóng đại, cường điệu theo cảm xúc người vẽ. Ví dụ như tranh của họa sĩ El Greco.

Tác phẩm “Laocoon” của họa sĩ El Greco, với các hình khối biến dạng

Hội họa Baroque (trường phái Dị Điển) mang đến sự khởi đầu cho bố cục cử chỉ (gestural composition) với các nhân vật có hình thể vặn vẹo, uốn cong trong một trạng thái xung đột, kịch tính,.. căng thẳng hiện rõ trên nét mặt .. Tác phẩm Baroque sử dụng chuyển động bố cục dàn trải. Tranh thường có nền màu tối sẫm, hiệu ứng tương phản sáng tối được khai thác triệt để.

Tác phẩm “The Inspiration of Saint Matthew” của họa sĩ Caravaggio, trường phái Baroque
Hai bức tượng David: Bên trái của Michelangelo (phục Hưng), bên phải của Gian Lorenzo Bernini (Baroque)

Painterly và Linear

Rembrandt và nhiều họa sĩ khác bắt đầu nghiên cứu màu sắc và ánh sáng trong hội họa theo xu hướng này, thay vì cứ vẽ ra mảng rồi đổ màu lên chúng như trước đây. Điều này tạo ra một phong cách Mảng (painterly), trái ngược với phong cách Nét (linear), nghĩa là các bức tranh lúc này không phải được tạo thành từ các nét vẽ mà là các mảng màu tương tác nhau, tạo nên chuyển động liên kết giữa các thành phần bên trong một bố cục tổng thể. Phong cách này mang lại tính thống nhất về mặt thị giác trong các tranh vẽ lúc bấy giờ.

Phong cách Linear (bên trái): Tác phẩm “The Birth of Venus”, họa sĩ SandroBotticelli
Phong cách Painterly (bên phải): Tác phẩm “The Regatta at Antwerp”, họa sĩ Othon Friesz

Rembrandt cũng sử dụng với những phong cách hội họa khác để tìm ý tưởng bố cục mới. Như là ông sử dụng màu tối, Vermeer dùng màu sáng, cũng như sử dụng với nhịp điệu và tính cân xứng, để tạo nên sự thống nhất tổng thể cho toàn bộ bức tranh. Velazquez, cũng là một họa sĩ theo phong cách Baroque, cũng sử dụng ánh sáng để tạo nên khung cảnh, và các tác phẩm của ông đã ảnh hưởng đến Manet, một họa sĩ trường phái Ấn tượng sau này.

Sau trường phái Baroque và Rococo, một phong cách Tân cổ điển (Neo-Classical style) được thiết lập, với sự quay trở lại chủ đề cổ điển, cũng như các kiểu trật tự, logic và hài hòa của mỹ thuật Hy Lạp và La mã cổ đại, với các họa sĩ như là Poussin ở Pháp. Cấu trúc hình học được nhấn mạnh, các mô típ được lặp đi lặp lại, như là bố cục hình tam giác, có sự sắp xếp nhiều motif phụ bên trong các motif lớn hơn. Tranh tĩnh vật của họa sỹ Chardin chứa các hình khối, đường thẳng và đường cong được sắp xếp một cách cẩn thận theo phong cách này.

Tác phẩm “glass of water and coffee pot”, họa sĩ Chardin và các hình khối ẩn trong tranh

Trong TK18 và TK19, các học viện ở Châu âu đã lập ra các thủ tục, luật lệ,.. việc vẽ tranh bị giới hạn trong phạm vi xưởng vẽ, làm hội họa trở nên cứng nhắc, giáo điều .. một kiểu phong cách đóng gói trước (pre-packaged style) . Điều này dẫn đến sự ra đời của trường phái Ấn tượng vào giữa TK19. Nhiều họa sĩ vẽ tranh phong cảnh như Claude Lorraine đã thực hiện các bản phát thảo nhanh ngoài trời, và sau đó phải vẽ lại trong xưởng vẽ theo quy định vẽ tranh hàn lâm.

Đầu những năm 1800, họa sĩ người Anh, Turner và Constable đã thực hiện các bức vẽ ngoài trời, với nét cọ phóng khoáng, bớt chú trọng phần tạo hình, hầu như hướng đến trừu tượng, sử dụng màu sắc thay cho độ sáng tối … và điều này, một lần nữa, ảnh hưởng mạnh mẽ đến các họa sĩ Ấn tượng.

khuôn hình và cắt cup

Nhà Ấn tượng tiên phong ảnh hưởng nhiều từ các họa sĩ vẽ ngoài trời là Manet qua cách vẽ với các đường cọ hòa trộn trên mặt tranh. Bức tranh không còn là khung cửa sổ nhìn ra thế giới bên ngoài nữa, mà giờ đây nó có khuynh hướng là một bề mặt phẳng với các đường cọ, màu sắc tươi sáng tạo nên bố cục thực tế của riêng nó. Đến lượt mình, cách vẽ của Manet ảnh hưởng đến các họa sỹ ấn tượng trẻ như Monet và Renoir. Các họa sĩ này không còn vẽ về chủ đề thiên chúa, thần thoại hay cung đình như trước đây, mà vẽ về chủ đề cuộc sống sinh hoạt hiện đại.

Giai đoạn này phát minh máy chụp ảnh, trong hội họa xuất hiện kiểu bố cục cắt cup, khuôn hình táo bạo như tranh của họa sĩ Degas. Các nhân vật không nhất thiết phải nằm gọn bên trong bức tranh mà đôi lúc bị cắt mất một phần ở rìa khung tranh tạo cảm giác đột ngột của các chủ thể đang chuyển động.

 

Tác phẩm “Four Dancers”, họa sĩ Degas với các vũ nữ như đang chuyển động hướng vào trong tranh

Sơn ống tuyp ra đời giúp họa sĩ Ấn tượng vẽ nhanh, nắm bắt hiệu ứng ánh sáng và không khí thiên nhiên một cách chính xác. Đối với các họa sĩ như monet và Renoir, bố cục được quyết định ngay tại chỗ, theo một cách giản dị và trực quan hơn tranh của hội họa Hàn lâm: Họ bỏ qua phần nghiên cứu sơ bộ và ít sử dụng tiền cảnh, trung cảnh, hậu cảnh mà rất cần thiết trong một tác phẩm truyền thống trước đây.

Màu sắc thay cho sắc độ

Họa sĩ Ấn tượng quan tâm đặc biệt đến sự tương tác giữa các mảng màu trên mặt tranh theo nguyên lý màu sắc hiện đại. Họ không dùng màu đen hay nâu để tạo ra các mảng tối mà sử dụng ngay chính màu tương phản của nó, điều này làm tranh ấn tượng có bảng màu phong phú hơn rất nhiều so với các tác phẩm hội họa trước đây.

Tác phẩm “the grand canal” của họa sĩ Claude Monet, trường phái ấn tượng, màu sắc tung tăng trên 1 hình mảng không rõ nét

Do trường phái ấn tượng chú trọng màu sắc, ánh sáng hơn hình thể nên tranh ấn tượng trông như 1 tác phẩm còn chưa vẽ xong (unfinished sketch), nét cọ còn lộ rõ, màu sắc tươi sáng, tương phản sáng tối mạnh mẽ… gợi lên một cảm giác trừu tượng.

Điêu khắc gia bật thầy Rodin cũng thực hiện các tác phẩm theo kiểu “chưa hoàn tất”, làm cho tính chất này trở thành một phong cách nghệ thuật hiện đại, tạo điều kiện để tác phẩm tiếp tục tự hoàn thiện trong tâm trí người xem.

Tác phẩm “spring” của điêu khắc gia Rodin

Dòng chảy tranh khắc gỗ Nhật Bản đến Châu Âu cũng góp phần vào khuynh hướng phẳng hóa các tác phẩm hội họa ấn tượng thời kỳ này.

LICH SỬ BỐ CỤC

phần 1phần 2phần 3 – phần 4


http://artmastered.tumblr.com/post/11413103404/linear-vs-painterly
http://www.artyfactory.com/art_appreciation/still_life/chardin.htm
https://bibella.wordpress.com/2016/12/14/dac-diem-cua-phong-cach-baroque/
Nguồn: http://www.ndoylefineart.com/design2.html

The painter Titian began to leave individual brushstrokes visible on the painting surface, in an unfinished manner, allowing marks to become compositional elements. In the Mannerist style, art became more emotional, as a reaction against the precision of the Renaissance, with exaggerated forms and perspective, as with El Greco. Baroque painting brought the beginning of gestural composition, where there is a sweeping compositional motion in the work, curvilinear in aspect. Rembrandt and others began to do studies of color and light for paintings in this manner, rather than drawing the forms and filling them in. This causes a “painterly” style, as opposed to a linear style, which means that there is intermovement and interconnection of the forms, by means of shared color and tone, and easier movement between forms in the composition, with shape, rather than line. This brought a unified vision to the painting. Rembrandt also used other paintings for compositional ideas. As Rembrandt did with dark tones, Vermeer did with light, as well as rhythms and proportions, creating an overall unity in his paintings. Velazquez, also a painter in the Baroque style, also used light to create a visible world, and his work was influential to Manet, and the Impressionists.

Following the Baroque and the Rococo, a Neo-Classical style set in, with a return to the order, logic, and harmony of classical Greece and Rome, as well as classical subject matter, with painters such as Poussin in France. Geometric structure was emphasized, as well as repeated motifs, such as a triangular arrangement of forms, and secondary motifs within the larger ones. Chardin’s still lifes contained this careful arrangement of forms, curves and lines. In the 18th and 19th centuries, the academies developed in Europe, presenting their ideas, rules and procedures for proper painting, working in the studio from plaster casts, and eventually human models. This eventually led to a sterile, pre-packaged style of painting, and was the order against which the Impressionists rebelled in the mid-19th century. Landscapists, such as Claude Lorraine, did loose sketches from nature, which they brought into the studio to be refined in a major way; the Impressionists later did these sketches from life, also – however, they chose to let the “sketch” stand as the finished work. In the early 1800’s, the English painter Constable also did many loose landscape studies from life, which influenced the Impressionists, also. Turner, also an English painter, did many loosely painted works, in a romantic, painterly, “formless” manner, almost to the point of abstraction, with the use of COLOR, as opposed to tone (light and dark) – again, an influence on the Impressionists.

These influences caused Manet to paint with little modeling and blending of the brushstrokes – the painting is no longer a window onto the world, but a flat surface which has its own reality of pure painting – brushstrokes, color, composition, etc. He then also influenced the young Impressionists Monet and Renoir, and others, to paint not grand history or classical works in the studio, but to work from life, in the plein air, with separate touches of color left as such, and not blended smoothly, and to paint modern life, not centuries ago. They also were interested in current theories of color, how colors reacted to one another on the canvas; and were influenced by the new invention of the camera, with its casual images where the forms were often cut off at the edge of the painting (look at many of Degas’ works), and also by the influx of Japanese prints, with their flatness and lack of depth. Composition for Manet was still somewhat premeditated, but for Monet and Renoir, composition was decided on the spot, in a more casual, intuitive manner than at the academies, with no “preliminary studies,” and less use of the traditional foreground/middle ground/background so essential to conventional painting. The “unfinished sketch” now became the final art product, not the preliminary one, and the painting is considered to have its own pictorial reality independent of external reality, in an abstract sense. Thus, Whistler calls his ‘Whistler’s Mother’ painting, Arrangement in Black and Gray. Rodin, in sculpture, also leaves parts of his forms “unfinished,” and this unfinished quality becomes an expressive statement and aesthetic principle, fragmentary and poetic, leaving the viewer to finish the image in his or her mind.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

16 − nine =