Quá trình hình thành 54 dân tộc Việt Nam

Căn cứ vào những kết quả nghiên cứu về sự hình thành và phân bố các chủng người trên Trái Đất cho thấy Việt Nam trong bối cảnh Đông Nam Á là một trong những chiếc nôi hình thành loài người, đâỵ chính là địa bàn hình thành đầu tiên của đại chủng phương Nam (Ja. V. Chesnov, 1976).

Nguồn gốc tổ tiên người Việt Nam và quá trình hình thành 54 dân tộc

Khoảng 40-50 vạn năm trước khí hậu Việt Nam mang nặng tính chất nhiệt đới, nóng ẩm, thích hợp cho sự sinh sống. Với những vết tích còn lại như răng người vượn hóa thạch phát hiện tại hang Thẩm Khuyên (Bình Gia- Lạng Sơn ), tại Núi Đọ (Thanh Hóa), Dầu Giây (Đồng Nai) tìm thấy những công cụ đá thô sơ (mảnh tước, rìu tay ) thuộc sơ kỳ đồ đá cũ cách nay 30 vạn năm… Chứng tỏ người vượn (Homo Erectus) đã có mặt ở nhiều vùng từ Bắc tới Nam. Lúc này loài người còn sống thành bầy đàn chưa phân chia chủng tộc.

Đến 2 vạn năm cách ngày nay loài người mới hình thành 3 chủng tộc chính:

  • Chủng Mongoloid (da vàng) sống ở châu Á,
  • Chủng Australoid (da đen) sống ở châu Úc, châu Phi
  • Chủng Europoid (da trắng) sống ở châu Âu.

Quá trình hình thành các dân tộc Việt Nam có thể được hình dung theo 3 giai đoạn

Nhóm người Ấn Độ thuộc đại chủng Australoid
  1. Vào cuối thời kỳ đồ đá cũ có một dòng người thuộc chủng Mongoloid từ phía dãy Himalaya thiên di về Đông Nam tới vùng Đông Nam Á cổ đại đã diễn ra sự hợp chủng giữa họ với cư dân Melannesien bản địa (thuộc đại chủng Australoid) dẫn đến sự hình thành chủng Indonesien (cổ Mã-lai) với nước da ngăm đen, tóc quăn gợn sóng, tầm vóc thấp, hốc mũi hơi rộng, môi dày, mí mắt có nếp rõ. Từ đây lan tỏa ra và cư trú trên toàn bộ địa bàn Đông Nam Á cổ đại: phía bắc tới sông Dương Tử, phía tây tới bang Assam của Ấn – Độ, phía đông tới vùng quần đảo Philippin và nam tới các quần đảo Indonesia.
  2. Từ thời kỳ đồ đá mới đến đầu đồ đồng quá trình hỗn chủng vẫn tiếp tục diễn ra giữa chủng lndonesien và chủng Mongoloid nên đã hình thành chủng Nam Á (Austroasiatique) với các nét đặc trưng Mongoloid càng ngày càng nổi trội.
  3. Từ đầu thiên niên kỷ II TCN đến đầu công ngụyên (sử cũ là 2.789 TCN) chủng Nam Á phân hóa thành nhiều tộc người mà cổ thư của Việt Nam và Trung Hoa gọi là Bách Việt như Điền Việt, Mân Việt, Dương Việt, Đông Việt, Nam Việt, Lạc Việt….sinh sống khắp khu vực phía nam sông Dương Tử cho tới Bắc Trung Bộ ngày nay. Ban đầu mỗi khối cư dân này có một tiếng nói riêng như Môn- Khơ mer, Việt- Mường, Tày- Thái, Mèo- Dao. Quá trình chia tách này tiếp tuc diễn tiến dẫn đến sự hình thành các dân tộc cụ thể (cùng với sự chia tách ngôn ngữ).
Địa bàn cư trú của các tổ tiên các Dân tộc Việt Nam

Việc xác định về mặt địa lý có thể hình dung như sau:

  • Tam giác màu đỏ: Địa bàn cư trú của người Bách Việt là một tam giác mà đáy là sông Dương Tử, đỉnh là Bắc Trung Bộ Việt Nam.
  • Tam giác màu vàng: Địa bàn cư trú của người Bách Việt và Nam Đảo là một tam giác mà đáy là sông Dương Tử, đỉnh là đồng bằng sông Mê kông Việt Nam.
  • Địa bàn cư trú của hậu duệ người Cổ Mã Lai, mà ngày nay là phần lớn các cư dân Đông Nam Á là một vùng rất rộng kéo dài từ Ấn Độ đến Philippines theo chiều Tây Đông, và từ sông Dương Tử xuống đến Indonesia theo chiều Bắc Nam.

Trong khi đó, ở phía Nam, dọc theo dãy Trường Sơn, vẫn là địa bàn cư trú của người Indonesien. Cuộc sống biệt lập khiến cho khối người này vẫn còn lưu giữ được nhiều đặc điểm truyền thống văn hóa cổ truyền Australoid. Đó là tổ tiên của người Chàm, Raglai, Ê đê, Chu ru, Stiêng…. Nói chung dân tộc Việt Nam ngày nay có 54 tộc người trong đó tộc người Việt (Kinh) thuộc nhóm Nam Á chiếm đa số.

54 tộc người được chia làm 8 nhóm, trong đó nhóm Việt – Mường chiếm đa số

  1. Nhóm Việt – Mường: Kinh, Chứt, Mường, Thổ
  2. Nhóm Tày – Thái: Bố Y, Giáy, Lào, Lự, Nùng, Sán Chay, Tày, Thái
  3. Nhóm Kadai: Cờ Lao, La Chí, La Ha, Pu Péo
  4. Nhóm Môn – Khmer: Ba Na, Brâu, Bru – Vân, Kiều, Chơ Ro, Co, Cơ Ho, Cơ Tu, Giẻ Triêng, Hrê, Kháng, Khơ Me, Khơ Mú, Mạ, Mảng, M’Nông, Ơ Đu, Rơ Măm, Tà Ôi, Xinh Mun, Xơ Đăng, X’Tiêng
  5. Nhóm H’Mông – Dao: Dao, H’Mông, Pà Thẻn
  6. Nhóm Nam đảo: Chăm, Chu Ru, Ê Đê, Gia Rai, Ra Glai
  7. Nhóm Hán: Hoa, Ngái, Sán Dìu
  8. Nhóm Tạng-Miến: Cống, Hà Nhì, La Hủ, Lô Lô, Phù Lá, Si La

Người Việt đã tách ra từ khối Việt – Mường vào khoảng thế kỷ VII. Một bộ phận lớn người Việt đã sinh sống ở kinh thành dưới thời Bắc thuộc nên được gọi là người Kinh. Như vậy nếu nói người Việt là người Việt Nam là không đúng, mà người Việt chỉ là 1 dân tộc trong 54 dân tộc anh em mà thôi. Điều này hay bị nhầm lẫn trong các phương tiện truyền thông, bài viết, quảng cáo.

Nói tóm lại, nguồn gốc người Việt thuộc chủng Indoneslen cùng với các chủng Đông Nam Á tiền sử. Cho nên văn hóa Việt Nam nằm trong quỹ đạo văn hóa Đông Nam Á. Trong quá trình phân hóa, các dân tộc Việt hình thành nền văn hóa đặc thù, có một nguyên bản riêng, có tính thống nhất trong đa dạng.


Tham khảo từ: http://www.wikiwand.com/vi/Nguồn_gốc_các_dân_tộc_Việt_Nam

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

twelve + 20 =