2a. Đông Sơn

2.- Mỹ thuật thời kỳ xác lập bản sắc văn hóa Việt (thời sơ sử – từ 2000 năm TCN đến đầu CN))

Bản sắc văn hóa là cái cội rễ cá biệt cùng với những vẻ bên ngoài độc đáo về nền văn hóa của một dân tộc. Có thể hiểu bản sắc văn hóa là cái tự thân văn hóa của một dân tộc, tức là đặc tính riêng biệt của một nền văn hóa mà chính bản thân nền văn hóa ấy nhận ra hoặc các dân tộc khác đánh giá. Bản sắc văn hóa Việt Nam được xác lập trong khoảng từ 2000 năm trước công nguyên (chưa có sự xâm lăng của văn hóa Hán). Thời kỳ này trên lãnh thổ Việt Nam tồn tại 3 trung tâm văn hóa lớn: Đông Sơn ( miền Bắc ), Sa huỳnh (miền Trung ) và Đồng Nai (miền Nam).

  • Văn hóa Đông Sơn (cả giai đoạn tiền Đông Sơn) được coi là cốt của người Việt cổ với nhà nước Văn Lang – Âu Lạc.
  • Văn hóa Sa Huỳnh (cả giai đoạn tiền Sa Huỳnh) được coi là tiền nhân tố của người Chăm và vương quốc Chăm Pa.
  • Văn hóa Đồng Nai lại là một trong những cội nguồn hình thành văn hóa Óc Eo của cư dân thuộc nhóm Mã Lai, Đa Đảo sinh sống vào những thế kỷ sau công nguyên ở vùng Đông và Tây Nam Bộ (vương quốc Phù Nam).

2.1.- Thành tựu Mỹ thuật thời kỳ văn hoá Đông Sơn

2.1.1- Khái quát văn hóa Đông Sơn

Nhiều học giả thừa nhận: văn hóa Đông Sơn hình thành trực tiếp từ ba nền văn hóa ở lưu vực sông Hồng, sông Cả, sông Mã. Các nền văn hóa Phùng Nguyên – Đồng Đậu – Gò Mun thuộc giai đoạn đồng thau từ khoảng 2000 đến 700 năm TCN.

Vào khoảng thế kỷ VII TCN, các văn hóa bộ lạc mất dần tính địa phương, tiến tới chỗ hòa chung vào một văn hóa thống nhất – văn hóa Đông Sơn. Đó cũng là lúc các nhóm bộ lạc liên kết lại trong một quốc gia: nước Văn Lang trên một vùng rộng lớn từ biên giới Việt – Trung cho đến bờ sông Gianh (Quảng Bỉnh).

Đến khoảng 253 trước công nguyên, trên cơ sở những thành tựu của thời Văn Lang, vua An Dương Vương xây dựng nhà nước Âu Lạc, là một quốc gia hùng mạnh có nền văn hóa phát triển cao về vật chất và tinh thần ở Đông Nam Á

2.1.2.- Đặc điểm các giai đoạn phát triển văn hóa thời Hùng Vương

a.- Giai đoạn Phùng Nguyên (Kinh Kệ, Lâm Thao, Phú Thọ – khoảng nửa đầu thiên niên kỷ II TCN) Đây là sơ kỳ thời đại đồng thau.

Kỹ thuật làm đồ đá phát triển đến đỉnh cao, chủng loại phong phú

(ảnh)

Đồ gốm: Bàn xoay đã được sử dụng khá rộng rãi, thành gốm mỏng, mặt ngoài thường tráng một lớp nước phủ nhẵn màu hồng xẫm, hồng nhạt hoặc nâu. Đồ đựng, đồ nấu có số lượng nhiều nhất. Được trang trí hoa văn phong phú. ngoài ra, có các loại khác như dọi xe sợi, đạn tròn, tượng gà, bò…

(Ảnh)

Đặc biệt tìm thấy tượng người đàn ông tại văn Điển bằng đá ngọc, cao 6cm, thần thon dài, mặt, trái xoan, mũi thẳng, mắt là hai lỗ nhỏ, hai tay tượng lược bỏ, xong bộ phận sinh dục được nhấn manh.

b.- Giai đoạn Đồng Đậu (Minh Tân, Yên Lạc,Vĩnh Phúc – thuộc nửa sau thiên niên kỷ II TCN)

Thành tựu nổi bật là kỹ thuật luyện đúc hợp kim đổng thau đã phát triển, tạo ra nhiều đồ đồng phong phú với hình dáng tương đối ổn định và chất lượng khá cao. Như những loại rìu hình chữ nhật, giáo hình búp đa, dao phạng, bàn chải (dũa), mũi nhọn (mũi phóng), dao khắc, mũi tên, lưỡi câu, kim và dây nhỏ.

Về đồ đá, ngoài những kiểu loại hiện vật thường thấy trong giai đoạn Phùng Nguyên, xuất hiện một số dạng trang sức mới. Đó là các loại vòng tay cỡ lớn, những hoa tai có 4 núm, những hạt chuỗi hình gối quạ được làm rất chau chuốt, công phu. tỉ mỉ..

(Ảnh)

Đồ gốm đã cho thấy một phong cách mới xuất hiện với xương gốm tương đối dày, nặng, bớt cao, chiều ngang lớn dần cùng với những đường gãy góc ở cổ và thân tương đối rõ ràng. Những thể loại hoa văn men được vẽ bằng bút khắc vạch (nhiều đường song song) như kiểu làn sóng, kiểu hình sâu đo, hình dây thừng, hình chữ S nằm uốn lượn, nối tiếp hoặc lồng vào nhau, hình xoáy trôn ốc, hình tam giác, hình thoi, rẻ quạt….tạo cảm giác phóng khoáng, uyển chuyển. Đặc biệt xuất hiện nhiều tượng súc vật nhỏ bằng gốm (kích thước từ 4 đến 5 cm) như chim, gà, đầu bò sừng nhọn trên u đầu có khía nhiều vạch tượng trưng cho vết giáo đâm trong nghi lễ tế thần.

(ảnh)

c.- Giai đoạn Gò Mun (Tứ Xã, Phong Châu, Phú Thọ ), tồn tại vào nửa đầu thiên niên kỷ I TCN. Kỹ thuật luyện đúc hợp kim đồng thau đã khá phát triển, đã thấy xuất hiện các loại lưỡi hái, rìu hình lưỡi xéo, chứng tỏ công cụ bằng đồng đã được dùng trong sản xuất nông nghiệp. Đáng chú ý ở di chỉ Vinh Quang (Hà Tâỵ) tìm thấy tượng người đàn ông ngồi bằng đồng, đầu chit khăn, hai tay bó gối và tượng gà trống bằng đồng rất sinh động.

Đồ gốm đã nung với độ lừa khá cao (trên 800 độ C), nên thành gốm rắn chắc, mặt ngoài cùa thành gốm không nhẵn bóng, do có pha vào xương gốm những hạt đá được đập nhỏ. Đặc trưng kiểu dáng gốm Gò Mun là các loại đồ đựng, đồ nấu thường có miệng gãy gập ra phía ngoài, nằm ngang, rộng bản, mặt trên của miệng được trang trí hoa văn, chân đế thấp dần, đáy bằng, hình dáng thanh thoát, loại hình phong phú. Hoa văn trang trí tuy có khởi đầu từ các giai đoạn trước, nhưng đã được hình học hóa. Đã thấy xuất hiện hoa văn hình cá, chim và có thêm một số tượng thú vật khác như chó, đầu rùa.

(Ảnh)

d.- Giai đoạn Đông Sơn (khoảng TK VII TCN đến đầu CN)

Kỹ thuật đúc đồng, luyện kim đã đạt đến trình độ tinh xảo, điêu luyện. Ngoài những công cụ vũ khí, đồ trang sức, hiện vật nổi tiếng chính là những chiếc trống đồng, thạp đồng…

Đồ gốm, tuy vẫn còn lưu giữ những truyền thống kỹ thuật xưa – nhưng đã cho thấy xuất hiện xu hướng thực dụng rõ rệt.

Thời kỳ này đã phát minh và sử dụng đồ sắt với kỹ thuật đúc rèn khá phát triển.

(Ảnh)

Tiêu biểu nhất đồ đồng thau cùng với nghề đúc luyện đồng thau đã phát triển đến đỉnh cao. Trong hợp kim đồng có thiếc và chì, kỹ thuật khuôn và rót hoàn hảo cho phép sản xuất rộng rãi đồ ứng dụng, vũ khí và đồ nghi lễ. Trong sản xuất nông nghiệp (các loại lưỡi cày, cuốc, mai , thuổng….), trong thủ công nghiệp (đục bẹt, đục vũm, nạo, bàn chải, dao…), trong chiến đấu và săn bắn (các loại rìu chiến, dao găm, giáo, bủa, mũi tên, áo giáp che ngực…), trong sinh hoạt hàng ngày, trong nghi lễ, lễ hội (trống thạp, thố, bình, lọ, vòng đeo tay…) và rất nhiều đồ đồng minh khí.

(Ảnh)

Trống đồng loai 1, các loại thạp đồng là những loại di vật thể hiện một cách tập trung nhất, cao độ nhất trình độ luyện kim cũng như trình độ văn hóa và xã hội của người Đông Sơn. Bên cạnh đó, nhiều loại hình đồ đồng thau mới được xuất hiện và ổn định thành một bộ di vật rất điển hình, rất độc đáo, thể hiện một sắc thái riêng biệt của nền văn hóa dân tộc: đó là các loại rìu xẻo (hình bàn chân, hình hia, hình thuyền….), rìu xòe cân, rìu hình chữ nhật; các loại giáo (hình búp đa, hình lá mía, hình thoi…); đó là những loại lưỡi cày, hình cánh bướm, hình tam giác, hình trái tim,…

(Ảnh)

Thành tựu Mỹ thuật thời Hùng Vương

a. – Điêu khắc

Điêu khắc Đông Sơn tuy kích thước còn nhỏ, phần nhiều gắn với đồ ứng dụng nhưng là một bước nhảy vọt so với trước về số lượng, về độ chín muồi về thực tiễn thị giác

Những pho tượng đồng được thể hiện bởi những hình khối khái quát ước lệ nhưng có năng lực diễn tả sinh dộng.

Tượng người cõng nhau thổi khèn cao 8,8cm ở Đông Sơn, người cõng nhún chân múa, người được cõng tay ôm lưng người kia, tay cầm khèn thổi, các đường chạy của khối thân, tay, chân lồng vào nhau như cùng hòa nhịp vào một điệu múa, toát lên cái dí dỏm lạc quan yêu đời

Tượng người quỳ làm chân đèn (Lạch Trường, Thanh hóa) cao 32 cm với cơ thệ trần, bụng thon, hai chân quỳ gập làm đế vững chãi, hai tay bưng khay đèn ngang ngực, từ lưng, vai mọc ra hai gạc cong như sừng hươu, nét mặt toát lên vẻ nhẫn nhục.

Tượng Người ngồi thổi khèn trên cán gáo (Việt Khê- Hái Phòng). Chiếc gáo được tạo dáng thanh thoát, dài 17,8 cm. Tượng tuy nhỏ, song được làm khá chi tiết. Một đầu khèn đặt trên chân, đầu kia tựa vào vòng tròn ờ cán muôi, tỷ lệ người khá cân đổi, tóc búi cao, khối mặt được diễn tả kỹ. Tượng vừa diễn tả được tâm trạng say sưa của người thổi khèn, vừa là tác phẩm nghệ thuật trang trí cho chiếc gáo đẹp hơn.

Đặc biệt trên nắp thạp đồng Đào Thịnh (Yên Bái) có 4 cặp tượng nam nữ với lối tạo hình đơn giản, cụ thể nhưng mang một ý nghía độc đáo: mong muốn cuộc sống vẫn được tiếp tục mãi mãi.

Những tượng người trên cán dao găm vừa có ý nghĩa trang trí, vừa có ý nghĩa thực tiễn, do vậy phong cách thể hiện có hơi bị gò bó kém sinh động. Tuy nhiên tính chất hiện thực được diễn tả khá công phu, chi tiết với nhiều kiểu dáng khác nhau đã nâng giá trị của các pho tượng này.. Cán dao có độ dài bằng 1/3 dao. Tượng thường được diễn tả tay chống nạnh, đàn bà mặc váy, áo bó sát người, ngực nở, tóc vấn cao, mũ vải hình chóp, hoa tai lớn, đàn ông cời trần, đóng khố với những hoa văn xương cá.

Súc vật cũng được dùng làm tượng cán dao, như ba dao găm Làng Vạc, dao dài 12,6 cm, với cặp rắn lồng vào nhau ngoạm chân voi, dao dài 22.2 cm cặp rắn đỡ hổ, dao dài 27,5 cm với cặp hổ đỡ voi. Không như tượng người, tượng thú trên cán dao găm được biến dạng khá cao như những dây leo xoắn xuýt, cố gắng khái quát thực tế hơn là tả thực.

Ngoài ra còn tìm thấy nhiều tượng thú vật, trong đó con cốc (nhái) nhiều nhất sau đó là rùa, hổ, bò gà chim cá… Một số tượng được diễn tả rất chi tiết, cụ thể, nhưng có một số tượng lại chỉ chú trọng những đặc điểm đặc trưng nhất

(Ảnh)

b.- Nghệ thuật trang trí: Phát triển đạt đến trình độ cao, thể hiện ở đồ trang sức, kiểu dáng các vật dụng và nghệ thuật chạm khắc trang trí.

Hầu hết những đồ đồng này đều được trang trí với những đồ án hoa văn phong phú, được chạm khắc chìm kết hợp chạm khắc nổi tinh xảo. Ngoài những đồ án hình học phỏng theo những hoa văn trang trí trên đồ gốm thuộc giai đoạn Gò Mun, còn có rất nhiều hình tượng sinh động từ thiên nhiên, từ cuộc sống với những đường nét chạm khắc chính xác, khái quát, cô đọng một cách sinh động các đối tượng miêu tả. Những đề tài được diễn tả rất sinh động, hiện thực, đó là những căn nhà sàn, những người múa, giã gạo, đánh trống, chèo thuyền, chim, hươu, cá….

(ảnh)

Trong Văn hóa Đông Sơn trống đồng là chứng nhân tiêu biểu, đầy đủ nhất của thời đại kim khí, có mặt rộng khắp các nước vùng Viễn Đông và Đông nam Á: Việt Nam, Trung Hoa, Indonexia, Thái Lan, Campuchia, Lào, Malaixia, Philipin, Mianma.

Trống đồng H.1 là trống xưa nhất, có niên đại từ giữa thiên niên kỷ I TCN đến thế kỷ III SCN. Thân trống chia làm 3 phần tang trống, thân trống, chân trống rõ rệt. Mặt trống không chờm quá tang trống. Hoa văn trang trí phủ kín mặt và thân. Trống sớm chưa có tượng cóc, hậu kỳ thường xuất hiện 4 nhóm tượng cóc trên mặt trống. Trong trống H1 có 4 trống đẹp nhất: Ngọc Lũ, Hoàng Hạ, Sông Đà (Việt Nam ) và Khai Hóa (Vân Nam- TQ).

Trống đồng Ngọc Lũ xưa nhắt đẹp nhất. Trống cao 63 cm, tang trống đường kính 79 cm, thân hình trụ tròn thẳng đứng, chân hơi loe hình nón cụt. Giữa tang trống và thân trống có gắn hai cặp quai kép trang trí văn thừng, mặt trống gồm 9 vòng tròn đồng tâm: Vành 1 chính giữa là ngôi sao 14 cánh, giữa các cánh là hoa văn lông công. Vành 2 hoa văn chữ S, chấm gạch, vòng tròn tiếp tuyến. Vành 3 rộng nhất gồm các cảnh nhẩy múa, đánh trống, giã gạo và 4 hình nhà sàn. Vành 4 hoa văn hình tròn có tâm và tiếp tuyến. Vành 5 gồm chim đầu tròn đang bay và hươu. Vành 6 hoa văn vòng tròn có tâm và tiếp tuyến. Vành 7 có 18 chim mỏ dài đang bay, chim mỏ ngắn đứng xen kẽ. Vành 8 hoa văn răng lược và vòng tròn có tâm tiếp tuyến. Vành 9 không trang trí

Tang trống cũng phân chia 3 vành trang trí hoa văn xen kẻ sáu con thuyền, trên thuyền có thuyền trưởng, thủy binh, người lái, người bắn cung, tù binh và hình chim, chó. Thân trống phân thành hai băng ngang trang trí kết hợp với 6 cột trang trí dọc tạo thành 6 ô chữ nhật, trong mỗi ô có hai cặp vũ sĩ hóa trang cầm rìu múa. Chân trống không trang trí.

Do Kỹ thuật khắc chìm kết hợp khắc nổi nên đã tạo ra độ cao thấp cho các hình tượng. Điều này đã tạo ra mảng sáng tối đậm nhạt phong phú cho toàn bộ hình trang trí. Hình nhà cửa, con người, chim thú… đều được diễn tà bằng nét thẳng dứt khoát, khúc triết xen kẽ nét cong tạo sự mềm mại cần thiết. Hình chim đơn giản, rõ ràng thể hiện tính cách điệu cao bên cạnh hình hươu đậm chất hiện thực. Con người và muông thú được diễn tả hướng nhìn nghiêng, song cánh, mắt… lại diễn tả ở hướng chính diện theo một quy định rõ ràng. Tất cả đã tạo nên những mô tip trang tri đơn giản song rất sinh động và mang tính cách điệu cao.

c.- Nghệ thuật kiến trúc

Căn cứ vào sử sách và những dấu tích còn lại cho thấy có 2 loại hình kiến trúc phát triển là kiến trúc nhà ở và kiến trúc thành lũy

Kiến trúc nhà ớ: Trong một số di chỉ khảo cổ ở Văn Điển, Đông Sơn còn tìm được cột gỗ dài 4,5 m có đục mộng cách chân cột 1,25 m, cách đầu cột 0,5 m cũng có vết khắc. Phải chăng đó chính là những cây cột vừa dùng để đỡ mái nhà, vừa dùng để đỡ sàn nhà thời Đông Sơn. Trên trống đồng Đông Sơn ta thấy có hình nhà sàn theo hai kiểu: Kiểu thứ nhất hình thuyền, trên mái được trang trí hình một hoặc hai con chim cách điệu. Kiểu thứ hai mái tròn hình mui rùa, hai đầu mái là hai hình tròn đồng tâm. Cả hai kiểu nhà sàn đều có cấu trúc cân đối, hài hòa

Kiến trúc thành lũy: Thành Phong Châu của các Vua Hùng đến nay không còn để lại vết tích. Dấu tích kiến trúc thành lũy còn lại đến nay là thành cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội) do An Dương Vương xây dựng vẫn còn hiện lên khá rõ

Theo truyền thuyết thành cổ Loa hình xoáy trôn ốc cố 9 vòng. Hiện trạng thành còn ba vòng, được đắp bằng đất, mặt ngoài thẳng đứng mặt trong thoai thoải đề quản ta dễ lèn xuống. Chản thảnh được kè đá, các lớp đất đắp thảnh được rải gốm chống trượt.

Thành nội: hình chữ nhật chu vi 1,2 km song hiện nay chì còn một số đoạn không hoàn chỉnh cao trung bình từ 1 đến 3,5 m rộng trung bình từ 10 đến 15 m. Thành trung: hình tự nhiên, chu vi 6,5 km, song hiện nay chỉ còn hơn một nửa không nguyên vẹn, rộng trung binh 17,5 m cao trung bình 5,4 m. Thành ngoại: hình tự nhiên, chu vi 8 km, nhiều đoạn thành đã bị phá, còn lại một số đoạn, cao trung bình 2,6 m, rộng trung bình 18 m

4.- Nhận xét chung về mỹ thuật thời Hùng Vuơng

a.- Quá trình phát triển mỹ thuật ở thời Hùng Vương là quá trình nhận thức có tính chất ước lệ, khái quát các hiện tượng thiên nhiên chuyển sang quá trình nhận thức đúng đắn thế giới khách quan, nhận thức đúng đắn về con người, hoạt động của con người và mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên. NộI dung hiện thực diễn tả cuộc sống về mọi mặt của con người là điểm trội nhất của mỹ thuật thời Hùng Vương.

b.- Mỹ thuật thời Hùng Vương mang tính chất trang trí độc đáo. Nghệ thuật chạm khắc bằng những đường nét hình học khái quát một cách đúng đắn, và thể hiện sinh đọng các đối tượng miêu tả. Những bố cục chạm khắc theo những nhịp điệu khúc triết thỏa mãn yêu cầu trang trí. Nghệ thuật tượng tròn cũng mang tính chất trang trí (thường được gắn kết làm đẹp cho các đồ đồng lớn) được thể hiện bằng những hình khối ước lệ, khái quát nhưng diễn tả chân xác các dáng điệu và tình cảm của đối tượng.

c – Mỹ thuật thời Hùng Vương là sản phẩm của một xã hội còn mang trong lòng những cơ cấu và những thiết chế công xã. Tính chất dân chủ trong nghệ thuật được biểu hiện những kích thước đều nhau cùa các đổi tượng nghệ thuật, nhất là việc thể hiện hỉnh người thường theo những tỷ lệ, những khuôn mẫu giống nhau. Trong nghệ thuật tạo hỉnh thời này chưa thấy xuất hiện những hỉnh tượng của thần, của vua như trong nghệ thuật một số quốc gia phương Đống cỏ đại, cũng chưa thấy xuất hiện những hỉnh mẫu mang tinh chẳt thần thoại huyễn bí lối thao thiết trong nghệ thuật thời đại đồ động ở Trung Quốc. Mặc dù so lượng tác phẩm khống nhiều, không hoành tráng như nghệ thuật tạo hình thế giới cùng thời đại nhưng nền mỹ thuật thời kỳ này tạo nền móng, cơ sớ cho một nền mỹ thuật dân tộc ngày càng được pháĩtriển trong các giai đoạn sau.