2b. Sa Huỳnh – Dong Nam Bo

2.2.- MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM MỸ THUẬT TRONG NỀN VĂN HÓA SA HUỲNH VÀ VĂN HÓA ĐÔNG NAM BỘ

a,- ĐẶC ĐIỂM MỸ THUẬT TRONG NỀN VĂN HÓA SA HUỲNH

Nét độc đáo của cư dân văn hóa Sa Huỳnh là kỹ thuật chế tạo đồ sắt bằng phương pháp rèn (khác ngoài Bắc chế tạo bằng phương pháp đúc) với nhiều chủng loại như lao, giáo, kiếm ngắn, mai, liềm, dao và đồ trang sức. công cụ phổ biến nhất là những lưỡi cuốc sắt có họng tra cán, bản lưỡi hình tam giác với các độ xòe khác nhau. Ngoài ra còn phổ biến loại công cụ gọi là dao rựa.

(Ảnh)

Đồ đồng tuy số lượng không nhiều như đồ đồng Đông Sơn hay Dốc Chùa (văn hóa Đồng Nai) nhưng cũng có những nét riêng độc đáo, tập trung bộ di vật Phú Hòa (Quảng Nam-Đà Nẵng) và Bàu Hòe (Bình Thuận).

(Ảnh)

Nghề gốm cũng rất phát triển, gốm đẹp nhất là gốm Long Trạch, Bàu Trám, sự thống nhất trong phong cách địa phương độc đáo thể hiện ở cách dùng những quan tài gốm là những chiếc nồi hình cầu, những chiếc chum hay vò hình trứng, bình lọ có vai hơi gãy. Hoa văn trang trí thường là văn thừng, văn răng sói hay tam giác đối đỉnh.

(Ảnh)

Bình con tiện hoa văn trang trí trên bình tìm thấy tại khu di tích Bãi Cọi

(Ảnh)

Cư dân Sa Huỳnh có khiếu thẩm mỹ cao, rất khéo tay, rất ưa đồ trang sức. Ngoài đồ trang sức bằng đá, sắt, đồng thì đồ trang sức bằng thủy tinh có số lượng nhiều và loại hình phong phú nhất. Đặc biệt khuyên tai hai đầu thú là một chế phẩm Sa Huỳnh đặc thù, không nơi nào trong nước cũng như ở Đông Nam Á tìm thấy nhiều loại khuyên này.

(Ảnh)

b.- ĐẶC ĐIẾM MỸ THUẬT TRONG NỀN VĂN HÓA ĐÔNG NAM BỘ

Nền văn hóa Đông Nam Bộ được phát hiện vào khoảng cuối thế kỷ 19. Cho đến nay ngoài việc kiểm chứng lại các di tích văn hóa cổ đã được phát hiện từ trước, khảo cổ học đã tìm thêm nhiều di tích mới. Như đã tìm thấy nhiều địa điểm có các công cụ đá ghè đẽo của con người thời kỳ “còn dáng vượn” như ở Cẩm Tiên, Núi Đất, Dốc Mơ… Hoặc ở thời kỳ tiếp theo như ở Vườn Dũ. Riêng về các di tích văn hóa thời kỳ đá mới và kim khí đã tìm được nhiều nhất gồm các di tích như Cầu Sắt, Bình Xuân, Đồi Mít, Đồi Xoài, Hưng Thịnh, Suối Chồn, Gò Me, Long Giao (Đồng Nai), Dốc Chùa, Mỹ Lộc, Bến Cát, Lộc I Ninh ( Binh Dương- Bình Phước ), Bến Đò (TP.HCM ), Rạch Núi, An Sơn (Long An)…

Đỗ đá: chủ yếu là bằng loại đá ba dan, hầu như vắng bóng công cụ bằng các loại đá ngọc. Tuy đã sử dụng thành thạo kỹ thuật mài đá nhưng dấu vết ghè đẽo để lại trên công cụ vẫn tương đối phổ biến. Kỹ thuật đánh bóng, khoan tiện đá không được phổ biến. Về loại hình là sự kém phong phú của các loại vòng trang sức bằng đá. Rìu là loại công cụ phố biến nhất và rìu có vai là đặc điếm nối bật của vùng này. Tỷ lệ giữa công cụ có vai và không vai khá cao. Đáng chú ý hơn cả là loại dao hái và dao cắt với hình dáng khá ổn định phát hiện được ở nhiều địa điểm làm nổi bật phong cách đồ đá Đông Nam Bộ. Cho đến nay chưa có nơi nào ngoài khu vực này phát hiện được loại dao hái có sống thẳng, dày, lưỡi mỏng hình vòng cung và loại dao cắt hình thang có mấu ở hai đầu sống dao.

(Ảnh)

Về điêu khắc gần đây đã phát hiện được một số tượng nhỏ bằng đồng và sắt, đó là những tượng thú như tại di tích Dốc Chùa (Tân Uyên – Bình Dương) đã đào được một tượng bằng đồng thau có lỗ để xỏ dây đeo kiểu bùa – vật trang sức cho các thủ lĩnh bộ lạc hay tôn giáo đương thời. Tượng miêu tả con chó săn được một con chồn dơi. Tượng có kích thước nhỏ bé (dài 6,4 cm và cao 7 cm)… Đặc biệt tìm thấy tượng con tê tê vào năm 1985 ở đồi 57, xã Long Giao (cấm Mỹ, Đồng Nai) gồm 2 con (1 đực và 1 cái). Hiện nay tại Bảo tàng tỉnh Đồng Nai đang lưu giữ tượng con tê tê đực được đúc từ khuôn sa thạch và pha chế từ hợp kim đồng thau có niên đại cách đây khoảng từ 2500 – 3000 năm. Tượng dài 37,3 cm; cao 7,5 cm; vòng bụng (chỗ phình ra) 9,5 cm; dày 6,7 cm.

Đồ sắt: về kỹ thuật cũng như về loại hình giống với đồ sắt trong nền văn hóa Sa Huỳnh ở giai đoạn muộn..

Đồ đồng: ở đây cũng có phong cách riêng. Rìu chủ yếu là loại rìu xòe cân, rìu lưỡi cong lồi nhiều, một mặt khum, một mặt hơi thăng, hoàn toàn vắng mặt loại rìu lưỡi xéo. Giáo đây thường có thân rộng hình lá. Qua đồng về kiểu dáng cũng rất khác với qua đồng phát hiện trong văn hóa Đông Sơn. Phong cách hoa văn trang trí trên một sổ đồ đồng ở đây cũng đơn giản, chủ yếu là loại văn đường chỉ nổi, vòng tròn xoáy ốc tiếp tuyến, hình tam giác hoặc những chấm nổi.

(Ảnh)

Về trống đồng hiện nay đã phát hiện 7 trống (một tại Vũng Tàu, 6 cái tại Bình Dương gồm Bình Phú, Phú Chánh I, II, III, IV, V)

(Ảnh)

Gần đây tại Giồng Cá Vồ – Cần Giờ (TP.HCM ) phát hiện nhiều mộ chum trong đó chứa nhiều đồ trang sức như hạt chuỗi, vòng tay, khuyên tai hai đầu thú bằng đá và thủy tinh cùng nhiều công cụ, vũ khí bằng sắt, đồng và đồ gốm….

(Ảnh)

Qua những hiện vật tìm thấy chứng tỏ văn hóa Đông Nam Bộ có những mối quan hệ với văn hóa Sa Huỳnh như đồ sắt, đồ gốm, khuyên tai hai đầu thú…, với văn hóa Đông Sơn như trống đồng, rìu xòe cân họng lục giác, vòng đồng, các khuôn đúc đồng bằng sa thạch với cách chế tác là mài đá thành hình trụ rồi xẻ dọc khoét thành 2 máng đúc. Không những thế di tích tại Giồng Cá vồ còn có những mối quan hệ với những vùng xa hơn. Với Philipin là khuyên tai hình hoa 3 cánh bằng gốm, muôi bằng vỏ nhuyễn thể, hạt chuỗi vàng hình bánh ú, hoa văn chữ S đứng song song vòng quanh thân… với Thái Lan là các loại giáo sắt, vòng đồng, rìu đồng… Dốc Chùa cũng như Đông Sơn đều tìm thấy qua đồng là sản phẩm có sự giao lưu rộng răi khắp vùng Đông Nam Á bấy giờ. Như vậy ít nhiều đã soi sáng một sự thật lịch sử: Thế kỷ 3-2 trước công nguyên đến đầu công nguyên là nhũng thế kỷ sôi động với những cuộc giao lưu tiếp xúc mạnh mẽ giữa các vùng đất ở Đông Nam Á